Rạng sáng 1 - 9 - 1858, quân Pháp nổ súng mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Quân dân ta, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, anh dũng chống trả. Quân Pháp bước đầu thất bại. Sau 5 tháng xâm lược, chúng chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà. Thất bại trong âm mưu đánh Nói về cuộc chiến 1858 – 1860 ở Đà Nẵng thì không thể không nói đến vai trò và giá trị của Thành Điện Hải. Có thể nói đây là minh chứng hùng hồn cho những ngày tháng đầu tiên quân dân ta chiến đấu chống lại liên quân Pháp – Tây Ban Nha. Và ngày hôm nay, các bạn Chiến sự ở Đà Nẵng năm 1858) Luyện Ngay >> Học trực tuyến Lớp 11 năm học mới trên Tuyensinh247.com. Cam kết giúp học sinh lớp 11 học tốt, hoàn trả học phí nếu học không hiệu quả. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở Đà Nẵng đã tác động như thế nào đến kế hoạch xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp? A. Bước đầu làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp. B. Cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân ta Sau thất bại ở Đà Nẵng Pháp chuẩn bị kế hoạch gì tiếp theo? Diễn biến chiến sự ở Đà Nẵng như thế nào? Để giúp bạn đọc có thể giải đáp được những câu hỏi này, VnDoc.com mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhé. Trả lời: - Lãnh đạo: Phạm Bành, Đinh Công Tráng. + Cuộc chiến đấy diễn ra ác liệt từ 12-1886 đến 1-1887, khi giặc Pháp mở cuộc tấn công quy mô lớn vào căn cứ. + Nghĩa quân chiến đấu anh dũng, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của Pháp. + Cuối cùng, thực dân Pháp mở cuộc xnnBKP. – Ngày 1-9-1858, quân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng, mở đầu cuộc tấn công xâm lược nước ta. – Quân dân ta dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương đã anh dũng chống trả. – Quân Pháp bước đầu thất bại. – Sau 5 tháng xâm lược chúng chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà. Kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp bước đầu thất bại. ——————————- – Đà Nẵng là một vị trí chiến lược quan trọng, nếu chiếm được sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp. – Đà Nẵng là một hải cảng sâu và rộng, tàu chiến có thể ra vào dễ dàng, lại nằm trên đường thiên lý Bắc Nam. – Đà Nẵng chỉ cách Huế 100 km, qua đèo Hải Vân, tại đây có nhiều người theo đạo Thiên Chúa và một số gián điệp đội lốt thầy tu hoạt động từ trước làm hậu thuẫn – Dụng ý của Pháp là sau khi chiếm được Đà Nẵng, sẽ tiến thẳng ra Huế, buộc triều đình Huế đầu hàng. – Hậu phương Đà Nẵng là đồng bằng Quảng Nam – Quảng Ngãi có thể lợi dụng để thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Nguyên nhân Sau hai trận thăm dò và thử sức lực lượng phòng thủ của nhà Nguyễn ở Đà Nẵng Quảng Nam vào ngày 15 tháng 4 năm 1847 và ngày 26 tháng 9 năm 1857, một ủy ban có tên là Commission de la Cochinchine do Nam tước Brenien đứng đầu [2]đã đệ trình và đã được Hoàng đế Napoléon III chấp thuận, chọn Đà Nẵng làm điểm khởi đầu trong kế hoạch đánh chiếm Việt Nam. Bởi Đà Nẵng là một hải cảng sâu và rộng, thuận tiện cho tàu chiến vào ra, lại nằm trên trục đường Bắc – Nam, có thể sang Lào, Căm Bốt và chỉ cách kinh đô Huế khoảng 100km, rất thuận lợi cho việc "đánh nhanh thắng nhanh" của liên quân Pháp - Tây Ban Nha gọi tắt là liên quân. Ngoài ra, Đà Nẵng còn có cánh đồng Nam – Ngãi để nuôi quân, còn có nhiều giáo sĩ và giáo dân thân Pháp. Cho nên đánh chiếm được Đà Nẵng, vượt đèo Hải Vân, rồi tấn công Huế; chính là con đường ngắn nhất, nhanh chóng nhất, ít hao tốn tiền của và nhân lực nhất để thực hiện được ý đồ của Pháp và Tây Ban Nha. Tuy nhiên, phải chờ đến sau Hiệp ước Thiên Tân 28 tháng 6 năm 1858 được ký kết, quân đội Pháp ở Viễn Đông mới có thể rảnh tay chuyển sang mặt trận khác… Diễn biến Ngày 31 tháng 8 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Hải quân Pháp do Genoully phía Pháp và Palnanca phía Tây Ban Nha chỉ huy tấn công cảng Đà Nẵng bằng thuyền chiến và tập kết quân ở Sơn Trà. Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Genoully gửi tối hậu thư buộc trấn thủ Trần Hoàng đang giữ Đà Nẵng trong hai giờ phải giao nộp cho quân Pháp tỉnh này. Nhưng chưa tới hạn, Genoully ra lệnh bắn phá đồn Điện Hải, An Hải. Triều đình Huế nghe tin căng thẳng ở Đà Nẵng, Tự Đức cử ngay Nguyễn Tri Phương tổng chỉ huy mặt trận đem quân giải quyết căng thẳng. Nguyễn Tri Phương cho quân đào hào, sơ tán dân, lập một hàng rào vây ở mé biển để quân Pháp ở Sơn Trà bí ở Sơn trà. Suốt 5 tháng vây hãm, cái đói và nóng nực đã khiến quân Pháp mệt mỏi, Pellerin khuyên Genoully đưa quân ra Bắc sẽ có giáo dân giúp nhưng luận điệu giáo dân giúp chỉ làm Genoully bực bội. Ngày 2 tháng 2 năm 1859, Genoully để lại một số tiểu đoàn chống cự quân Nguyễn Tri Phương ở Đà Nẵng còn lại theo đường biển từ Vũng Tàu ven theo tiến vào Gia Định. Câu 1Chiến sự ở Đà Nẵng những năm 1858 - 1859.* Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược- Từ giữa thế kỉ XIX, các nước tư bản phương Tây đẩy mạnh xâm lược các nước phương Đông để mở rộng thị trường, vơ vét nguyên Việt Nam lại là nước có vị trí địa lí thuận lợi, giàu tài nguyên thiên Chế độ phong kiến ở Việt Nam lại đang ở vào giai đoạn khủng hoảng, suy yếu.* Pháp đánh Đà Nẵng- Lấy cớ bênh vực đạo Gia-tô, Liên quân Pháp - Tây Ban Nha kéo đến Việt Ngày 1 - 9 - 1858, quân Pháp nổ súng đánh Đà Quân ta dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương đã lập phòng tuyến, anh dũng chống Sau 5 tháng xâm lược, Pháp chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà. Kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp bước đầu thất bại. Câu 1 Chiến sự ở Đà Nẵng - Ngày 31/8/1858, tàu chiến của liên quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng. Kế hoạch của Pháp là ''đánh nhanh, thắng nhanh'', nhanh chóng chiếm được Đà Nẵng làm bàn đạp để kéo quân chiếm Huế, kết thúc chiến tranh. - Ngày 1/9/1858, Liên quân bắn đại bác lên đôn Điện Hải, An Hải trong suốt ngày đó. Sau cuộc pháo kích, liên quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. - Mấy lần liên quân tìm cách đánh vào đều bị quan quân đánh bật lại và thiệt hại khá nặng. Sau 6 tháng chiến tranh, chúng hầu như đều dậm chân tại chỗ. - Tháng 2/1859, Pháp rút quân kéo khỏi Đà Nẵng và đem quân vào Gia Định. Chiến sự ở Gia Định - Sáng ngày 17/2/1859, Pháp tấn công thành Gia Định và khoảng 10h cùng ngày thì Gia Định thất thủ. - Tháng 2/1861, Pháp được tăng viện lên 4000 quân và 70 tàu chiến. - Đêm 23/2/1861, Pháp tấn công Đại đồn Chí Hoà. Quân ta và Pháp đều thiệt hại nặng nhưng Pháp chiếm đc đồn. - Pháp tiếp tục lấn tới, mở cuộc hành binh đẫm máu dọc sông Bảo Định, chiếm được Định tường 12/4, Biên Hòa 18/12/1861 và đến 23/3/1862, thành Vĩnh Long thất thủ. - 25/6/1862, Pháp tuyên bố lập ra chế độ Soái Phủ ở Nam Kì Gouverneur Amiral, đánh dấu bước mở đầu chế độ thuộc địa ở Nam kì. Câu 2 Lần I - Cuối năm 1872, lấy cớ vụ Đuy-puy. Hơn 200 quân Pháp do Gác - ni - e chỉ huy từ Gia Định kéo ra Bắc - Sáng 20/11/1873, Pháp tấn công thành Hà Nội, hơn 7000 quân cố gắng cản giặc nhưng bị thất bại. Trưa, thành mất. Nguyễn Tri Phương đã tự sát. - Trong vòng chưa đầy 1 tháng, lần lượt Hải Dương, Hưng Yên, Phủ Lí, Ninh Bình, Nam Định bị thất thủ. - Ngày 21/12/1873, Pháp đánh ra Cầu Giấy thì bị quân của Hoàng Tá Viêm phối hợp với quân Cờ Đen do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy phục kích. Gác-ni-e và nhiều sĩ quan, binh lính bị giết tại trận. - Giữa lúc đó, Nhà Nguyễn lại kí hiệp ước Giáp Tuất 15/3/1874 với Pháp. Theo đó Pháp sẽ rút khỏi Bắc Kì còn lục tỉnh Nam Kì chính thức thuộc Pháp. Lần II - 3/4/1882, Pháp đổ bộ lên hà Nội lần II. - 25/4/1882, Pháp tấn công Hà Nội, quân ta anh dũng chống trả nhưng đến trưa thành mất. Hoàng Diệu tuẫn tiết. - Sau đó, Pháp nhanh chóng tỏa ra chiếm Hòn Gai, Nam Định và các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Kì. - 19/5/1883, 500 quân Pháp kéo ra Cầu Giấy bị quân Cờ Đen và quân Hoàng Tá Viêm phục kích. Nhiều sĩ quan, binh lính Pháp bị giết. Câu 3 * Hiệp ước Nhâm Tuất - Thời gian 5/6/1862 - Hoàn cảnh sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kì Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long. Pháp yêu cầu triều Nguyễn kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất. - Nội dung + Thừa nhận quyền cai quản của Pháp ở 3 tỉnh miền Đông Nam Kì và đảo Côn Lôn. + Mở 3 cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho Pháp vào buôn bán. + Cho phép người Pháp và Tây Ban Nha tự do truyền đạo Thiên Chúa. + Bồi thường cho Pháp 1 khoản chiến phí ~ 288 vạn lạng bạc. + Pháp sẽ ''trả lại'' thành Vĩnh Long cho triều đình chừng nào triều đình buộc dân chúng ngừng kháng chiến. * Hiệp ước Giáp Tuất - Thời gian 15/3/1874. - Hoàn cảnh năm 1867 Pháp chiếm xong các tỉnh miền Đông Nam Kì và đặt bộ máy cai trị lên đó. Năm 1873 pháp tấn công Bắc Kì lần I nhưng gặp phải sự chiến đấu bất khuất của nhân dân HN, đặc biệt là ngày 21/12/1873, chiến thắng Cầu Giấy ta giết được Giác - Ni - E Francis Garnier . -> Pháp hoang mang, ngược lại triều đình lại sợ mất lòng người nên đã nhu nhược kí hiệp ước vào ngày 15/3/1874. - Nội dung + Pháp sẽ rút quân khỏi Bắc Kì + Triều Đình Huế chính thức thừa nhận lục tỉnh Nam Kì hoàn toàn thuộc Pháp * Hiệp ước Quý Mùi Hacmang - Thời gian 25/8/1883 - Hoàn cảnh + Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai làm quân Pháp thêm hoang mang dao động. Chúng đã toan bỏ chạy nhưng triều đình lại chủ trương thương lượng với Pháp. + Sau khi có thêm viện binh, lại nhân cơ hội vua Tự Đức qua đời, triều đình nhà Nguyễn lục đục, thực dân Pháp chớp ngay lấy cơ hội và quyết định tấn công thẳng vào cửa ngõ kinh thành Huế Đó là cửa biển Thuận An. + Ngày 20/8/1883 sau 2 ngày bắn pháo, quân Pháp đổ bộ lên Thuận đình hoảng hốt xin đình chiến. + Cao ủy Pháp lên ngay Huế, đưa ra bản hiệp ước thảo sẵn, buộc triều đình chấp nhận và kí ngày 25/8/1883. - Nội dung + Triều đình Huế chính thức thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc và Trung Kì. + Cắt tỉnh Bình Thuận ra khỏi Trung Kì để nhập vào đất Nam Kì thuộc Pháp. + 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tỉnh được sát nhập vào Bắc Kì. + Triều đình chỉ cai quản vùng đất Trung Kì, nhưng mọi việc phải thông qua Pháp ở Huế. + Công sứ Pháp ở Bắc Kì thường xuyên kiểm soát những việc của triều đình, nắm các quyền trị an và nội vụ. + Mọi việc đối ngoại với nước ngoài kể cả Trung Quốc đều do Pháp nắm. + Triều Đình phải rút quân ở Bắc Kì về Trung Kì. * Hiệp ước Patonot - Thời gian 6/6/1884. - Hoàn cảnh + Sau hiệp ước 1883, nhân dân cả nước một mặt phẫn nộ trước thái độ đầu hàng của triều nguyễn, mặt khác càng căm thù quân xâm lược Pháp nên soi nổi đứng lên kháng chiến. + Trước hoàn cảnh đó, chính quyền thực dân Pháp chủ trương làm dịu bớt tình hình căng thẳng của nhân dân và tỏ ra rộng lượng với triều đình để lấy lòng bọn tay sai nên đã dẫn đến việc kí kết hiệp ước Pa - tơ - nốt ngày 6/6/1884. - Nội dung + Tương tự hiệp ước Hác - Măng 1883 + Sửa đổi đôi chút ranh giới khu vực Trung Kì.

chiến sự ở đà nẵng diễn ra như thế nào